An Trú Trong Giây Phút Hiện Tại

logo
Sự kiện tiêu biểu

Tin mới

Showing posts with label Triet-ly-song. Show all posts
Showing posts with label Triet-ly-song. Show all posts
Biển rộng mênh mông không bờ không bến, không có giới hạn, là bởi nó không cự tuyệt bất kỳ một giọt nước nào. Núi có thể đứng cao sừng sững vạn trượng, là bởi nó không từ chối dẫu chỉ một hòn đá nhỏ…
Nước được xưng là có lòng bao dung vĩ đại, bất luận là ân oán, đúng sai, vô luận là giọt nước ở sông lớn hay dòng suối nhỏ, đều có thể giống như Lâm Tắc Từ đã nói: “Hải nạp bách xuyên, hữu dung nãi đại, bích lập thiên nhận, vô dục tắc cương’. Ý rằng, biển lớn dung nạp trăm nghìn sông, bởi tấm lòng bao dung mới có thể trở nên vĩ đại, vách núi nghìn trượng sừng sững, vì không mang dục vọng mới có thể trường thành.
Một cái bát, chỉ có thể đựng đầy một bát nước; một cái thùng, chỉ có thể đựng đầy một thùng nước. Ao hồ sông biển, lớn nhỏ không đồng đều, vậy nên dung lượng cũng khác nhau. Lớn thì mới có thể dung nạp vạn vật, chứa đựng muôn loài.
Nước Mỹ được xưng là xã hội di dân, hơn một trăm năm nay đứng đầu thế giới. Sở dĩ đất nước này lớn mạnh, một trong những nguyên nhân, chính là ở đây có thể dung nạp người tài của các dân tộc, chủng tộc, cũng như các loại học thuyết tư tưởng khác nhau.
Tấm lòng bao dung lớn bao nhiêu, thành tựu lớn bấy nhiêu
Dung lượng lớn nhỏ, từ góc độ của con người mà nói, chính là tấm lòng độ lượng. Có câu thơ rằng “Tướng quân ngạch thượng khả tẩu mã, tể tướng đỗ lý năng xanh thuyền”, nghĩa là: trán tướng quân có thể phi ngựa, bụng thừa tướng có thể chèo thuyền. Ý ở đây là khen ngợi người có tấm lòng khoan dung rộng mở, cũng là khuyên nhủ con người nên rộng lượng và khoáng đạt trong cách đối nhân xử thế.
Người có tấm lòng bao dung mới có thể trở nên vĩ đại.
Lại có câu nói chế giễu người ta, gọi là “bụng chim ruột gà, tầm nhìn của chuột”, đó chính là nói con người ta bụng dạ hẹp hòi, thiếu tấm lòng bao dung. Có rất nhiều đức tính không tốt đều liên quan đến bụng dạ hẹp hòi, ví như đố kỵ, tranh đấu, cuồng vọng, hiển thị, v.v…
Từ tấm lòng khoan dung của một người, có thể nhìn thấy được thành tựu của người đó. Có tấm lòng khoan dung lớn bao nhiêu thì hưởng phúc lớn bấy nhiêu, có lòng khoan dung lớn bao nhiêu thì thành tựu sự nghiệp lớn bấy nhiêu. Phúc báo và sự nghiệp ở đây, không chỉ là vinh hoa phú quý, quan to lộc hậu mà người thường nói đến, cũng không chỉ là thanh danh hiển hách của một đời một kiếp này.
Chính là giống như Đức Chúa Giê-su gánh chịu tội nghiệp cho người đời mà bị đóng đinh lên trên cây thập tự giá, nhưng Đạo mà Ngài giảng mãi được lưu truyền cho đến tận ngày hôm nay. Khổng Tử cả một đời chu du các nước, không ngại gian khổ, phiêu bạt khắp nơi, sau khi mất đã trở thành gương sáng muôn đời, soi sáng cả vùng đất phương Đông..
Tấm lòng rộng mở, hóa địch thành bạn
Abraham Lincoln – Tổng thống vĩ đại của Hoa Kỳ xuất thân bần hàn, nhưng tấm lòng rộng lớn, có thể bao dung người của các sắc tộc khác nhau, bao gồm cả những người đã chế nhạo lăng nhục ông. Có một Thượng nghị sĩ đã từng lăng nhục ông trước mặt mọi người, giễu cợt cha ông chỉ là thợ đóng giày, nhưng Lincoln không chút ái ngại mà chân thành đáp lại, cuối cùng nhận được một tràng pháo tay, hóa địch thành bạn.
Sau khi Lincoln được bầu chọn là tổng thống, có người khuyên ông tấn công tiêu diệt những kẻ thù chính trị trước đây, ông nói: “Chúng ta chẳng phải đang muốn tiêu diệt những kẻ thù chính trị hay sao? Vậy thì khi chúng ta trở thành bạn bè, kẻ thù chính trị không còn tồn tại nữa”.
Lincoln bất chấp sự phản đối của mọi người để chọn dùng Ulysses Simpson Grant, người mà nghiện rượu như mạng sống, tính tình nóng nảy; nhờ vậy mà sau này đã giành được thắng lợi trong chiến tranh Nam – Bắc. Về sau “chân thành và khoan dung giống như Lincoln” đã trở thành câu ngạn ngữ của Mỹ, trở thành một bộ phận trong nền tảng văn hóa nước này.
Những câu chuyện này vốn không giống như kiểu cách ‘diễn kịch’ của con người thời hiện đại, cũng không phải là hành vi hứng khởi trong lúc nhất thời, mà là thể hiện cảnh giới tâm tính của sự chân thành. Họ chính là có lòng khoan dung to lớn như thế, có tấm lòng rộng lớn như thế, vậy nên những khó nạn từ trời giáng xuống mới không lay động được họ.
Lincoln nói: “Chúng ta chẳng phải đang muốn tiêu diệt những kẻ thù chính trị hay sao? Vậy thì khi chúng ta trở thành bạn bè, kẻ thù chính trị không còn tồn tại nữa”.
Còn đối với những người lòng dạ hẹp hòi mà nói, chưa cần phải kể đến những lăng nhục như vậy, ngay cả những chuyện nhỏ nhặt không đáng kể, cũng có thể khiến họ canh cánh trong lòng cả một đời. Những mâu thuẫn dẫn đến bi kịch người sống kẻ chết chỉ bởi một câu nói vốn không phải là hiếm thấy trong xã hội ngày nay. Một ly nước, chỉ cần cho vào một ít bùn, ly nước sẽ bị đục ngay; còn biển cả mênh mông kia, hàng ngày nghìn vạn con sông đổ về, mà cuối cùng vẫn không thấy nó thay đổi. “Mọi người đều khen ngợi anh ta, nhưng anh ta lại không bởi vậy mà trở nên cao ngạo. Người trong xã hội đều chê trách anh ta, anh ta cũng không vì vậy mà chán nản uể oải”, tấm lòng như vậy, thử hỏi ai còn có thể động đến được đây?
Người mà lòng dạ hẹp hòi, thì cũng xem một vết xước nhỏ thành quan nạn sinh tử, chỉ vì chút lợi nhỏ nhoi mà buồn mà vui, quên cả sống chết, vì chút hư danh mà cả đời không sao buông bỏ được.
Ếch ngồi đáy giếng, phạm vi thấy được chỉ là đường kính trong phạm vi một trượng; Hà Bá ngắm nhìn đại dương, mới biết bản thân mình thật sự quá ư nhỏ bé. Vậy tại sao chúng ta không thử thay đổi chính mình?
Trái đất trong vũ trụ mênh mông này chẳng qua chỉ là một hạt bụi, nếu bạn dám mở rộng tấm lòng, thì có lẽ, cả kỳ quan vũ trụ mênh mông tráng lệ cũng sẽ mở ra cho bạn.

Vốn xinh đẹp, thông minh, lại lấy được người chồng tài hoa, cô được mọi người ngưỡng mộ, nói cô có mệnh phú quý. Nhưng mà cuộc sống không mãi êm đềm như vậy, thế sự như mê, trong phúc có họa, trong họa được phúc…
Con người ngày nay, thân bệnh cũng nhiều mà tâm bệnh cũng không hề ít. Có người vì quá đau buồn chuyện gia đình chồng con mà sinh bệnh; có người trầm cảm, lúc nào cũng mặt mày ủ dột, tinh thần không sao khởi lên được; lại có người vì quá áp lực trong chuyện kinh doanh làm ăn mà tinh thần trở nên khủng hoảng… Tất thảy đều đi tìm bác sỹ hòng cứu nguy.
Bác sỹ Trung y Ôn Tần Dung người Đài Loan là người đã chứng kiến rất nhiều các trường hợp khác nhau như vậy của bệnh nhân. Và dưới đây là một câu chuyện chân thực được bà kể lại:
***
Sinh cơ của thiên địa, một năm có Xuân sinh, vạn vật sinh sôi nảy nở; Hạ trường, mùa Hạ kéo dài; Thu thu, mùa Thu đến lúc thu hoạch; cho đến Đông tàng, vạn vật bắt đầu héo úa, điêu linh, lá rơi về cội. Trong mùa quan trọng này, thường khiến người ta nghĩ ngợi sâu xa, nghĩ đến đời người phải tiếp tục như thế nào? Trong cuộc đời mỗi người đều kiếm tìm một nơi tốt đẹp, khi mặt trời lặn, luôn mong muốn có một tổ ấm ấm áp, có thể tránh mưa tránh gió, ổn định cuộc sống lâu dài.
Cô là một cô gái khuê các con nhà khá giả, năm 28 tuổi được gả cho người đàn ông làm nghề bác sĩ. Lúc đó những người bạn thân đều chúc mừng cô, nói cô có mệnh phú quý, kết hôn với người đàn ông hoàng kim. Chồng của cô rất có tâm lập nghiệp, mở rộng và đầu tư rất nhiều cho sự nghiệp. Hàng ngày cô cũng ở lại phòng khám phụ giúp chồng, mỗi ngày nghe nhiều thấy nhiều cũng học được không ít kiến thức y học. Về sau cô quyết định đi học, bởi thông minh nên rất nhanh lấy được bằng y sỹ, rồi mở phòng khám riêng. Phòng khám của cả hai vợ chồng cô ngày càng phát triển và đông khách, cô và chồng cũng luôn bận rộn với công việc của mình.

Cô quyết định đi học, bởi thông minh nên rất nhanh lấy được bằng y sỹ, rồi mở phòng khám riêng.

Nhưng mà, cuộc sống không mãi êm đềm trôi qua như vậy. Thế sự như mê, tạo hóa thường thử thách con người, trong phúc có họa, trong họa được phúc. Đột nhiên có một ngày cô đến phòng khám tư của tôi. Mới một năm không gặp, mà trông cô dường như đã già thêm 10 tuổi. Tôi rất kinh ngạc hỏi cô: “Cô vẫn khỏe chứ? Có chuyện gì xảy ra sao? Hay cô có chỗ nào không được tốt?”.
Cô ấy do dự nói: “Cuộc hôn nhân của tôi xuất hiện người thứ ba, là trợ lý rất giỏi trong phòng khám”.
Bởi vì cô ấy không đối phó nổi với hai người họ, nên chỉ có thể tác thành cho họ mà thôi. Nhưng người chồng lại đưa ra yêu cầu bắt buộc cô phải chi trả phí ly hôn bốn ngàn NDT. Trời ạ! Ở đâu ra cái lý như vậy? Sau khi nghe xong, tôi rất lo lắng bèn nói với cô ấy: “Mệnh của cô rất quý giá, là mệnh phú quý vô cùng trân quý!”.
Thì ra trong lúc cô ấy không hay biết gì, người chồng đã dùng tên của cô làm rất nhiều chi phiếu giả, tổng cộng cũng hơn bốn ngàn NDT. Khi mọi chuyện bại lộ, các chủ nợ đã đến vây quanh phòng khám của cô, hơn nữa còn uy hiếp, đe dọa, dùng hết mọi thủ đoạn để đòi nợ. Đến số tiền mà cô dành dụm được cũng bị lấy đi, không chừa lại một đồng nào, thật sự là mất hết tất cả.
Thời điểm đó giống như từng nhát dao vừa nhanh vừa bén không ngừng dày vò cô ấy. Phải làm gì mới có thể vượt qua giai đoạn khó khăn, đau khổ trùng trùng này? Mùa Đông đã đi qua nhưng mùa Xuân trước sau vẫn không chịu đến, mặt trời lặn, đêm đen kéo dài vô tận, bình minh mãi chẳng thấy đâu. Cho dù đau buồn vẫn phải vượt qua, vì vậy cô đến Tòa án xin phán quyết ly hôn. Cô hy vọng một nơi tràn đầy chính nghĩa như vậy sẽ giúp mình được giải thoát, tuy nhiên vụ việc vẫn bị kéo dài, chậm trễ không giải quyết. Cô ấy cũng không còn cách nào, cuối cùng người của Tòa án bảo hai bên hãy tự hòa giải riêng với nhau.

Thế sự như mê, tạo hóa thường thử thách con người, trong phúc có họa, trong họa được phúc. 

Có đôi khi pháp luật không bảo vệ được người tốt, không trừng phạt được kẻ xấu, hơn nữa lại là lợi thế cho những kẻ xảo quyệt. Sống trong hoàn cảnh như thế, tình trạng tinh thần và tâm lý của cô như đang đứng trên bờ vực sụp đổ.
Cô ấy là một tín đồ thành kính của Kitô giáo, mỗi ngày đều cầu nguyện với Chúa trời. Trong cơn bế tắc, cô muốn có một con dao sắc nhọn, có thể chém đứt tất cả sóng to gió lớn, nhưng những cơn sóng kia càng thêm hung ác nhấn chìm cô. Bởi vậy cô chỉ có thể cô đơn giữa muôn trùng sóng biển mà cầu cứu Chúa.
Cô ấy tuyệt vọng nghĩ, có phải Chúa đã bỏ rơi mình rồi chăng? Cô ấy đi khắp nơi gặp các bác sỹ tâm lý, tham gia học lớp Tâm linh. Tuy nhiên, một trái tim đã vỡ nát với rất nhiều vết thương, trước sau vẫn không thể tìm thấy an bình. Cả người cô ấy đều rơi vào vực sâu, nhưng mọi việc vẫn không dừng lại ở đó, vẫn còn có chuyện kinh hãi hơn đang chờ đợi cô… Bác sỹ thông báo cô bị ung thư buồng trứng.
Tôi nghe hết những chuyện đáng buồn và bi thảm của cô, liền giúp cô châm cứu huyệt bách hội, thần đình, rồi không ngừng xoa bóp huyệt hợp cốc, thần môn, rồi lấy khăn giấy giúp cô ấy lau nước mắt.
Đơn vị đo lường có dài có ngắn, cũng có những căn bệnh bác sĩ không trị khỏi được. Cho dù là châm cứu hay thuốc thang cũng không thể trị khỏi căn bệnh của vận mệnh.
Đầu tiên phải giúp cô ấy có dũng khí sống tiếp, tinh thần có vấn đề cần phải khắc phục và ổn định, dùng âm nhạc nghệ thuật để chữa trị tâm hồn. Vì vậy, tôi đã mời cô ấy đến xem buổi trình diễn của Chương trình nghệ thuật Shen Yun. Hôm đó, bức màn vừa được kéo ra, chúng tôi nhìn thấy một vùng ánh sáng rực rỡ chói lòa, chúng Thần, Phật, Bồ Tát, La Hán, Thiên Vương đạp mây giáng xuống trần.
Cô ấy kinh ngạc thốt lên: “Ôi… Thật sự rất giống Thiên đường! Giống như đang ở trong thế giới Thần Phật vậy, vừa mỹ diệu, vừa chấn động! Trường năng lượng thật mạnh”.

Shen Yun – Chương trình biểu diễn nghệ thuật hàng đầu thế giới khôi phục văn hóa 5.000 năm Trung Hoa. 

Tôi nhìn thấy nước mắt của cô ấy lã chã rơi, mọi lo lắng, buồn khổ, sợ hãi trên khuôn mặt ngày nào trong giờ khắc này đều đã biến thành xúc động. Gương mặt của cô giống như đã được khóa lại tất cả mọi đớn đau, giống như con ngựa dừng cương rời xa trường đấu, thoát khỏi cơn ác mộng. Mặc dù trên khuôn mặt ấy vẫn còn nước mắt, nhưng đó là một sự thanh thản hiếm hoi.
Sau đó, mỗi năm cô ấy đều mua vé đắt nhất để xem chương trình biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Shen Yun. Cô ấy thật tâm chia sẻ với tôi rằng, được xem Shen Yun biểu diễn mới thật sự là mệnh phú quý.
Mặc cho gió đông lạnh lẽo, rét mướt, cô ấy vẫn giống như một đóa mai nở rộ giữa mênh mông tuyết trắng. Cuối cùng cô ấy ly hôn, nhiều năm qua vẫn chiến đấu với bệnh tật, nỗ lực trả món nợ của chồng trước. Trên con đường đầy rẫy chông gai, cô ấy vẫn can đảm và vững vàng bước tiếp…

Lev Nikolayevich Tolstoy
“Để có thể sống, một người hoặc phải không nhìn thấy sự vô hạn, hoặc phải có một lời giải thích về ý nghĩa cuộc sống kết nối cái hữu hạn với vô hạn.”

Khi vừa bước sang tuổi năm mươi, Leo Tolstoy (9/9/1828 – 10/11/1910) rơi vào cuộc khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Để lại sau lưng những tác phẩm vĩ đại nhất, ông nhận ra cảm quan về ý nghĩa cuộc sống của mình bỗng đi xuống ngay khi  danh vọng và sự tung hê của dư luận đang cuồn cuộn dâng trào, ông chìm sâu vào chứng trầm cảm và luôn u sầu dù có một gia sản lớn, sức khỏe tốt so với tuổi của ông, một người vợ đã sinh cho ông mười bốn người con, và viễn cảnh về sự nổi tiếng vĩnh hằng trong giới văn học.

Trên bờ vực tự tử, lần cuối ông đưa tay ra nắm lấy tia sáng giữa bóng tối đang bủa vây lấy sự tồn tại của chính ông, để biến nó thành thứ triết lý, tôn giáo vĩ đại của thế giới, trả lời cho câu hỏi muôn đời về ý nghĩa cuộc sống. Năm 1879, một thập kỷ sau Chiến tranh và Hòa bình, hai năm sau Ann Karenina và một thập kỷ trước khi ông tập hợp những phát hiện triết học của mình và ghi này trong cuốn Calendar of Wisdom (Lịch minh triết), Tolstoy đã bàn về thảm họa của sự tồn tại trong đời sống nội tâm của ông trong cuốn A Confession (tạm dịch: Lời thú nhận) – một cuốn hồi k‎ý tự truyện tỏ rõ lòng mình và những cảm xúc mạnh mẽ đang trào dâng, tác phẩm cũng cho ta biết những tiên liệu của Tolstoy về tiền bạc, danh vọng, và những lý do sai lầm cho việc cầm bút.

Ông so sánh diễn biến chứng trầm cảm của bản thân như một căn bệnh thể chất nghiêm trọng. Tolstoy viết:

Giống như những gì xảy ra với người có vết nội thượng chí mạng. Lúc đầu những triệu chứng khó ở thoáng xuất hiện, không khiến người bệnh lưu tâm nhiều, sau đó những triệu chứng này lặp lại với cường độ thường xuyên hơn gây ra những cơn đau triền miên. Cơn đau ngày một dữ dội và trước khi người bệnh có thể hiểu chuyện gì đang xảy, triệu chứng khó ở đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng đối với anh ta, hơn bất cứ điều gì khác trên thế gian – đó là cái chết!

Các triệu chứng đặc thù của việc mất khoái cảm bủa vây lấy ông – không còn đam mê cho công việc, từ bỏ cái danh vọng vĩnh hằng mà ông từng mơ ước bởi giờ nó đã trở nên thật vô nghĩa. Ông thậm chí dừng việc ra ngoài săn bắn với khẩu súng của mình, sợ rằng sẽ không vượt qua được cám dỗ mà tự kết liễu đời mình. Dù từ góc độ là một người sáng tạo, ông không thừa nhận sự tồn tại của “một ai đó”,  ông dần cảm nhận cuộc đời mình là một trò lố mà “một ai đó” đã áp đặt lên – một trò lố mà khi người ta nhận thức được sự vô thường tất yếu của bản thân thì càng trở nên tuyệt vọng hơn.

Hôm nay hay ngày mai, bệnh tật và cái chết sẽ đến (chúng đã đến rồi) với những người tôi yêu mến và với cả bản thân tôi; không còn lại gì ngoài mùi hôi thối và dòi bọ. Sớm hay muộn thì những vấn đề của cá nhân tôi, dù có là gì đi chăng nữa, cũng sẽ bị quên lãng, và tôi không còn tồn tại nữa. Vậy tại sao phải cố gắng?…Làm sao người ta không thể nhận ra điều này? Và làm thế nào để tiếp tục sống? Đây chính là điều đáng kinh ngạc! Một người chỉ có thể sống khi người ta say xỉn với đời, ngay khi anh ta tỉnh táo trở lại hầu như không thể không nhìn ra cuộc đời chỉ là một sự lừa dối, một sự lừa dối ngu xuẩn! Đó chính là bản chất của nó: chẳng có gì vui nhộn hay dí dỏm về nó, đơn giản chỉ là tàn bạo và ngu xuẩn.

Nếu chỉ đơn giản hiểu rằng cuộc sống không có ý nghĩa, tôi đã có thể chịu đựng điều đó trong lặng lẽ và coi đó là điều may mắn của mình. Nhưng tôi lại không thể thỏa mãn bản thân với điều đó. Nếu tôi giống như một người đàn ông sống trong rừng, biết rằng lối ra không tồn tại thì tôi đã có thể sống, nhưng tôi lại là một kẻ lạc lối trong rừng, kinh hoàng lo sợ mình sẽ đi lạc và nháo nhào tìm cách thoát ra. Anh ta biết rằng mỗi bước anh ta đi càng làm anh ta thêm rối trí, nhưng anh ta không đừng được việc đâm quàng đâm bậy. Thực sự là kinh khủng. Để giải thoát bản thân khỏi nỗi kinh hoàng này, tôi đã muốn tự kết liễu đời mình.

Nhưng ông nhận ra rằng gốc rễ của căn bệnh tinh thần này, cuộc tìm kiếm không phải của riêng ông và nó cũng không phức tạp.

Câu hỏi của tôi…là câu hỏi đơn giản nhất, nó nằm trong tâm khảm của tất thảy mọi người, từ đứa trẻ ngây thơ tới cụ già tinh anh nhất, đó là một câu hỏi mà không có lời giải đáp thì người ta không thể sống được, như kinh nghiệm của tôi. Đó là: “Việc mình làm hôm nay hay ngày mai sẽ đem lại kết quả gì ? Cuộc đời này sẽ để lại điều gì?” Nói theo cách khác: “ Tại sao tôi sống, tại sao tôi lại muốn gì, hoặc làm gì?” Hoặc “Liệu cuộc đời tôi có một ý nghĩa nào đó  mà cái chết lăm le chực chờ phía trước cũng không thể phá hủy ?”

Để tìm câu trả lời cho câu hỏi tưởng như đơn giản nhưng lại sâu rộng vô cùng này, ban đầu Tolstoy đã tìm đến khoa học, nhưng nhận ra thay vì nhận thức vấn đề và đi vào trả lời cho câu hỏi, khoa học lại tránh né nó và đặt ra những câu hỏi khác, rồi đi trả lời chúng. Trên hết, ông thấy rằng khoa học không có khả năng soi rọi cái vô hạn mà thay vào đó thu hẹp cả câu hỏi và câu trả lời về với cái hữu hạn. Ông viết:

Tất cả những lời này đều chẳng có ý nghĩa gì hết, vì trong vô hạn không có sự phức tạp cũng như đơn giản, không có tiến hay lùi, không có tốt hay xấu.

Một người thực sự muốn tìm kiếm cách sống không thể thỏa mãn với câu trả lời – “Nghiên cứu trong không gian vô tận các đột biến của các nguyên tử,  thời gian của chúng là vô cùng và sự phức tạp của chúng là vô hạn, và sau đó ta sẽ hiểu cuộc sống của chính mình” – và anh ta cũng chẳng thể thỏa mãn với câu trả lời: “Nghiên cứu toàn bộ cuộc sống của nhân loại, sự khởi đầu và kết thúc của cuộc sống ấy ta không thể biết, ta thậm chí cũng không thể biết một phần nhỏ của nó, và sau đó ta sẽ hiểu cuộc sống của chính mình.”

Một thế kỷ rưỡi trước khi Alan Lightman vật lộn với cùng một nghịch lý, Tolstoy đã nắm bắt được cái tình huống khó xử trong cuốn Catch-22:

Vấn đề của khoa học thực nghiệm là chuỗi các nguyên nhân và kết quả của hiện tượng vật chất. Chỉ cần khoa học thực nghiệm đưa ra câu hỏi về nguyên nhân cuối cùng là nó đã trở nên vô nghĩa rồi. Vấn đề của khoa học trừu tượng là sự công nhận bản chất nguyên thủy của cuộc sống. Chỉ cần khoa học trừu tượng đề cập tới việc nghiên cứu các hiện tượng hậu quả (như hiện tượng xã hội và lịch sử) là nó cũng đã trở nên vô nghĩa rồi. Khoa học thực nghiệm về sau chỉ đưa ra những kiến thức tích cực và thể hiện sự vĩ đại của tâm trí con người mà không đề cập tới việc nghiên cứu câu hỏi cho nguyên nhân cuối cùng. Trái lại, khoa học trừu tượng chỉ là một môn khoa học, hiển thị sự vĩ đại của tâm trí con người khi nó gạt sang một bên các câu hỏi liên  quan tới nguyên nhân kết quả của các hiện tượng và coi con người chỉ liên quan đến nguyên nhân cuối cùng.

Ông sau đó quay sang triết học, nhưng thấy thất vọng không kém:

Triết học không chỉ không đưa ra lời giải đáp mà còn lặp lại câu hỏi ấy. Nếu đây là triết học đích thực, thì tất cả công lao của nó chỉ nằm ở mỗi việc trình bày lại câu hỏi cho rõ ràng.

Thay vì một câu trả lời, ông tìm thấy ở triết học “cùng một câu hỏi, chỉ là trong một hình thức phức tạp khác.” Ông than phiền về sự bất lực của cả khoa học và triết học trong việc đưa ra một câu trả lời thỏa đáng:

Một loại kiến thức không trả lời được câu hỏi về cuộc sống, loại khác đưa ra câu trả lời khẳng định trực tiếp nỗi tuyệt vọng của tôi, cho thấy những kết luận mà tôi đi tới không phải là kết quả của cái tâm trí hỏng hóc hay bệnh tật của tôi, mà ngược lại những điều tôi nghĩ là đúng và suy nghĩ của tôi trùng lặp với kết luận của những tâm trí vĩ đại nhất.

Thất vọng, Tolstoy tự trả lời câu hỏi của chính mính:

“Tại sao mọi thứ hiện diện lại tồn tại và tại sao tôi lại tồn tại?” “Bởi vì nó tồn tại.”

Đó là cảm giác mà John Cage một thế kỷ sau trong(“No why. Just here.”) và George Lucas trong (“There is no why. We are. Life is beyond reason.”) – đã đưa ra một nhận định tương đương với tinh thần của Phật giáo. Và thực sự Tolstoy đã tìm tới tâm linh trong một nỗ lực tuyệt vọng cuối cùng để tìm một lời giải đáp – trước hết bằng cách tìm hiểu những người sống quanh ông, làm cách nào họ có thể sống với những câu hỏi ngày đêm ám ảnh như thế. Ông đã tìm thấy ở họ bốn chiến lược để kiểm soát cơn khủng hoảng sự tồn tại, nhưng tất cả  chúng đều không giải quyết được vấn đề:

Tôi thấy rằng đối với những người sống quanh tôi có bốn cách thoát khỏi tình thế khủng khiếp mà tất cả chúng ta đều bị đặt vào. Cách thứ nhất là sự thiếu hiểu biết. Nó gồm việc không biết, không hiểu rằng cuộc sống là một điều tồi tệ và lố bịch. Từ (những người thuộc loại này) tôi không có gì để học – một người không thể không biết cái anh ta đã biết.

Cách thứ hai là chủ nghĩa khoái lạc. Nó gồm, trong khi hiểu sự tuyệt vọng của cuộc sống, tận dụng những lợi thế sẵn có của mình, không quan tâm tới việc lớn cũng như việc nhỏ, chỉ chăm chăm hưởng thụ theo cách tốt nhất, nhất là khi có điều kiện để tận hưởng…Đây là cách mà đa số những người sống quanh tôi áp dụng để khiến cuộc sống trở nên dễ thở hơn. Hoàn cảnh của họ đem đến cho họ nhiều điều để tận hưởng hơn là những khó khăn, và sự chai mòn về đạo đức cho phép họ quên rằng những lợi thế từ địa vị của họ là tình cờ… điều khiến tôi trở thành Solomon hôm nay cũng có thể biến tôi trở thành nô lệ của Solomon ngày mai. Sự thiếu nhanh nhạy trong tưởng tượng cho phép họ quên đi những điều khiến Đức Phật không thể yên lòng – hôm nay hoặc ngày mai những điều tất yếu như bệnh tật, tuổi già, cái chết sẽ làm tiêu tan những lạc thú này.

Cách thứ ba là sức mạnh và năng lượng. Nó gồm  việc tuyên chiến với cuộc đời khi nhận ra sự xấu xa và lố bịch của nó. Một số ít người đặc biệt mãnh mẽ và kiên định sẽ áp dụng cách này. Hiểu được trò đùa ngu ngốc được áp đặt lên họ, cái chết còn tốt hơn cả sự sống và có lẽ tốt nhất là từ đầu đã không tồn tại, họ hành xử theo cuộc đời và nhanh chóng kết thúc trò đùa ngớ ngẩn này, có vài cách để làm điều đó: một sợi dây thừng cuốn quanh cổ, nước, dao đâm thẳng vào tim, hay những đoàn tàu đang rầm rập trên đường ray, và số người quanh tôi áp dụng cách này ngày càng nhiều lên, và phần lớn họ làm việc đó khi đang ở đỉnh cao của cuộc đời, khi sức mạnh tâm trí họ nở rộ và những vài thói quen khiến người ta trở nên hèn yếu vẫn chưa thành hình.

Cách thứ tư là sự yếu đuối. Nó gồm việc nhận thức  sự thật của cuộc sống mà vẫn bám víu vào nó, biết trước rằng nó chẳng đem lại điều gì. Những người thuộc loại này hiểu rằng cái chết thì tốt hơn cuộc sống, nhưng lại không có sức mạnh để hành động theo l‎ý trí – tự kết liễu đời mình và nhanh chóng kết thúc sự giả dối này – dường như họ còn chờ đợi một điều gì đó. Đây là lối thoát cho sự yếu đuối, bởi nếu tôi biết điều gì là tốt nhất và tôi có thể làm, tại sao lại không làm?..Cách thứ tư này là sống như Solomon và Schopenhauer – biết rằng cuộc đời là trò đùa ngu xuẩn mà vẫn sống, tắm rửa, mặc đẹp, ăn tối, trò chuyện và thậm chí là viết sách. Điều này đối với tôi cực kỳ khó chịu và đau khổ, nhưng tôi vẫn ở nguyên vị trí đó.

Thấy mình thuộc loại thứ tư, Tolstoy bắt đầu đặt câu hỏi tại sao ông vẫn chưa tự sát. Đột nhiên ông nhận ra rằng một phần trong ông đang đặt câu hỏi về tính chính xác trong những suy nghĩ trầm cảm của mình, đưa ra một “nghi ngờ mơ hồ” về sự chắc chắn trong những kết luận của ông về sự vô tri của cuộc sống. Bị lúng túng vì nhận thức rằng tâm trí vừa là con rối vừa là thầy múa rối, ông viết:

Nó như thế này: tôi, lý do của tôi, đã thừa nhận rằng cuộc sống là vô nghĩa. Nếu không có gì cao hơn lý do (và không có: không có gì có thể chứng minh là có), thì lý do chính là người sáng tạo ra cuộc sống của tôi. Nếu lý do không tồn tại thì tôi cũng không tồn tại. Làm sao lý do có thể chối bỏ cuộc sống trong khi nó chính là người tạo ra cuộc sống? Nói theo cách khác, nếu không có cuộc sống, lý do của tôi sẽ không tồn tại, vì vậy lý do là con đẻ của cuộc sống. Cuộc sống là tất cả. Lý do vừa là quả ngọt của cuộc sống lại vừa chối bỏ nó. Tôi cảm thấy có gì đó không đúng ở đây.

Và ông khám phá ra rằng giải pháp không nằm trong khoa học, triết học hay cuộc sống của chủ nghĩa khoái lạc, nhưng trong những điều đó cuộc sống tồn tại ở hình thức đơn giản và tinh khiết nhất:

Suy ngẫm để nhận ra sự vô thường của cuộc đời không phải là khó, nhưng cuộc đời đã quen với những kẻ có lối suy nghĩ đơn giản nhất, và những kẻ ấy đã và vẫn đang sống. Làm sao mọi người đều sống mà không bao giờ nghi ngờ tính hợp lý của cuộc sống?

Kiến thức của tôi, được khẳng định bởi sự thông thái của các nhà hiền triết, đã cho tôi thấy rằng tất cả mọi thứ trên trái đất – hữu cơ và vô cơ – đều được sắp xếp một cách khéo léo – chỉ bản tôi là ngu ngốc. Và những kẻ ngu ngốc – chiếm đại đa số con người – không biết mọi thứ từ hữu cơ đến vô cơ được sắp xếp như thế nào, nhưng họ vẫn sống và đối với họ cuộc đời được sắp xếp một cách hoàn hảo!…

Và nó khiến tôi giật mình suy nghĩ :”Nhưng nếu như có điều gì đó tôi vẫn chưa biết? Sự thiếu hiểu biết thường có biểu hiện như vậy. Sự thiếu hiểu biết luôn nói những điều tôi đang nói. Khi nó không biết gì, nó cho đó là điều ngu xuẩn. Thật vậy, có vẻ như toàn thể nhân loại đã sống và sống như thể họ biết ý nghĩa cuộc đời của họ, bởi nếu không hiểu họ đã không thể sống, nhưng với bản thân tôi, tôi thấy toàn bộ cuộc sống này là vô nghĩa và tôi không thể sống được.

Thức tỉnh với những gì mà Stuar Firestein gọi là “vô minh ý thức” 130 năm sau đó, Tolstoy nhìn thấy điểm chết của mình ở góc nhìn mới:

Với ảo tưởng về niềm tự hào của tôi, tôi đã quả quyết rằng tôi, Solomon và Schopenhauer đã nêu ra câu hỏi một cách chính xác và hoàn hảo không gì có thể thay thế được – luôn chắc rằng mọi người không hiểu ý nghĩa cuộc sống – trên hành trình đi tìm ý nghĩa cuộc sống tôi lại chưa một lần tự hỏi “Nhưng ý nghĩa cuộc sống của hàng tỷ người đang và đã sống trên thế giới là gì?”

Tôi đã sống lâu trong trạng thái của sự điên cuồng, một đặc trưng của những kẻ như chúng tôi rất phóng khoáng và mê khám phá. Nhưng nhờ tình cảm mới mẻ tôi dành cho những người lao động chân chính, tôi đã cố gắng hiểu họ và nhận ra họ không quá ngu ngốc như ta tưởng, và bất chấp  niềm tin tuyệt đối của tôi rằng điều tốt nhất tôi có thể làm là treo cổ mình lên, tôi vẫn cảm thấy một cách bản năng là tôi muốn sống và hiểu ý nghĩa cuộc sống của tôi, tôi phải tìm kiếm ý nghĩa này không phải từ những người đã đánh mất nó và muốn tự sát, mà từ hàng tỷ người đã sống trong quá khứ, hiện tại, những người tạo ra cuộc sống và san sẻ gánh nặng cuộc sống của chính họ và cả của chúng ta nữa. Và tôi đã quan sát vô số những người sống đơn giản, họ ít học và nghèo khổ, những người này đã và đang sống, và tôi đã thấy ở họ một điều gì đó rất khác biệt.

Tôi thấy rằng, với những trường hợp hiếm hoi, tất cả những người đã và đang sống đó không vừa vặn với các suy đoán của tôi, và tôi không thể xếp họ vào thành phần không hiểu câu hỏi, bởi chính họ đã nêu nó ra và trả lời nó với sự rõ ràng phi thường. Tôi cũng không thể coi họ là những kẻ hưởng lạc bởi cuộc sống của họ nhiều thiếu thốn, đau khổ hơn là khoái cảm. Tôi lại càng không thể coi họ như những kẻ lê bước phi ý chí trong một sự tồn tại vô nghĩa, bởi mỗi hành động trong cuộc sống của họ cũng như bản thân cái chết đã được họ giải thích. Họ coi việc tự sát là tội ác lớn nhất. Dường như tất cả nhân loại đều hiểu ý nghĩa cuộc sống nhưng tôi không những không thừa nhận mà lại còn khinh bỉ họ. Dường như suy nghĩ một cách có lý trí không những không mang lại ý nghĩa cuộc sống mà còn chối bỏ nó: trong khi ý nghĩa cuộc sống được tạo nên bởi hàng tỷ người, bởi toàn thể nhân loại, những kiến thức kia lại dựa trên một số kiến thức giả tưởng khinh rẻ.

Ông suy ngẫm sự bất hợp lý cần thiết của đức tin

Kiến thức tư duy được đưa ra bởi những người có học và khôn ngoan, tư duy lý trí chối bỏ ý nghĩa của cuộc sống, trong đại đa số người dân, toàn thể nhân loại lại tiếp nhận ý nghĩa cuộc sống thông qua những kiến thức phi lý. Và kiến thức phi lý đó chính là đức tin, là những câu chuyện về thánh thần, sự kiến tạo sự sống trong sáu ngày, thiên thần và ác quỷ.. chính là điều tôi không thể chấp nhận ngày nào tôi còn giữ lại lý trí của mình.

Tình thế của tôi thật là khủng khiếp. Tôi biết tôi không thể tìm thấy gì trên con đường tư duy lý trí ngoại trừ việc chối bỏ cuộc sống, còn đức tin thì không gì khác hơn là sự phủ nhận lý trí, điều không thể đối với tôi hơn cả việc chối bỏ cuộc sống. Khi suy nghĩ một cách có lý trí cuộc đời này có vẻ là một điều tồi tệ, mọi người biết điều ấy và có quyền kết liễu đời mình, nhưng họ đã và vẫn đang sống, và bản thân tôi cũng đang sống dù tôi đã biết từ lâu rằng cuộc đời là vô nghĩa và tồi tệ. Theo đức tin, dường như để hiểu được ý nghĩa cuộc sống, tôi phải từ bỏ lý do của mình, nhưng đó lại là thứ duy nhất đòi hỏi phải có ý nghĩa.

Mâu thuẫn phát sinh ở đây. Hoặc là cái mà tôi gọi là lý do không có lý như tôi tưởng hoặc là điều tưởng như vô lý đối với tôi lại không quá vô lý như tôi tưởng.

Và ở đó ông đã tìm ra lỗ hổng trong tất cả các lập luận trước đây của mình, gốc rễ tình trạng u sầu của ông về sự vô nghĩa của cuộc sống:

Tôi công nhận rằng những lập luận từ tư duy lý trí là hoàn toàn chuẩn xác. Từ đó tôi đi đến kết luận tất yếu: cuộc sống là vô nghĩa, nhưng tôi nhận thấy có một sai lầm. Sai lầm nằm ở chỗ lý luận của tôi không phù hợp với câu hỏi đặt ra. Câu hỏi là:” Tại sao tôi phải sống, có nghĩa là, ‎sự tồn tại hữu hạn của tôi trong thế giới vô hạn này sẽ để lại điều gì là thực, là bất biến? Và để trả lời câu hỏi đó tôi đã nghiên cứu cuộc sống.

Lời giải cho những câu hỏi về cuộc sống có thể không làm tôi thỏa mãn, vì câu hỏi của tôi, đơn giản như khi nó xuất hiện lần đầu tiên, yêu cầu một lời giải thích về sự hữu hạn trong tương quan với sự vô hạn, và ngược lại.

Câu hỏi của tôi:”Bất chấp thời gian và không gian, ý nghĩa cuộc sống của tôi là gì?” Và tôi đã trả lời một câu hỏi hoàn toàn khác: “Ý nghĩa cuộc sống của tôi trong phạm vi thời gian và không gian hữu hạn là gì?” Kết quả là, sau những nỗ lực suy ngẫm triền miên, câu trả lời tôi đạt được là: “Không gì cả”

Theo lý luận của tôi, tôi luôn so sánh (và cũng không thể làm gì khác hơn) hữu hạn với hữu hạn, vô hạn với vô hạn, nhưng vì lý do đó tôi đã đi đến một kết luận tất yếu: lực là lực, vật chất là vật chất, ý chí là ý chí, vô hạn là vô hạn, không có gì là không có gì – và đó là tất cả lời giải.

Kiến thức triết học không phủ nhận điều gì, mà chỉ trả lời nó không thể giải đáp được câu hỏi này – rằng đối với kiến thức triết học lời giải vẫn chưa được xác định.

Sau khi hiểu điều này, tôi biết không thể dùng tư duy lý trí để trả lời câu hỏi của tôi, những gì rút ra từ đó ám chỉ một câu trả lời chỉ có thể có được bởi một câu hỏi khác và chỉ khi quan hệ giữa vô hạn và hữu hạn được đưa vào câu hỏi. Và tôi hiểu rằng, dù câu trả lời của đức tin có thể không hợp lý và méo mó, họ có lợi thế là đưa vào mỗi câu trả lời mối liên hệ giữa hữu hạn và vô hạn, điều kiện cần cho một câu trả lời thỏa đáng.

Vì vậy, ngoài việc suy nghĩ lý trí, gần như là kiến thức duy nhất tôi thừa nhận, tôi đã buộc phải thừa nhận là tất cả nhân loại sống đều có một cách suy nghĩ phi lý trí khác – người ta có thể sống được bằng đức tin. Vẫn như trước đây, tôi coi đức tin  là điều phi lý, nhưng tôi không thể không thừa nhận rằng mình nó đã giải đáp câu hỏi của loài người về cuộc sống, từ đó giúp họ tồn tại.

Tolstoy lưu ý rằng, đức tin có thể là bất cứ điều gì “mang đến ý nghĩa vô hạn cho sự tồn tại hữu hạn của con người,  ý nghĩa đó không bị hủy hoại bởi khổ đau, mất mát và kể cả cái chết.” nhưng ông cẩn thận không đánh đồng đức tin với một tôn giáo cụ thể nào. Như Flannery O’Connor, người đã tinh tế chỉ ra sự khác biệt giữa tôn giáo và đức tin, Tolstoy viết:

Tôi hiểu rằng đức tin không chỉ đơn thuần là “bằng chứng của những điều không nhìn thấy”,… cũng không phải là một mặc khải (chỉ xác định một trong những chỉ dẫn về đức tin, không phải là mối quan hệ của con người với Chúa (trước hết ta phải định nghĩa đức tin sau đó định nghĩa Chúa, chứ không được định nghĩa đức tin thông qua Chúa), đó không chỉ là sự đồng tình với những gì đã được nói đến (và người ta thường luôn nghĩ về đức tin như thế), mà đức tin là sự hiểu biết về ý  nghĩa cuộc sống con người. Đức tin là sức mạnh của cuộc sống. Nếu một người sống thì anh ta phải tin vào điều gì đó. Nếu anh ta không tin rằng mình phải sống cho điều gì thì anh ta sẽ không sống. Nếu anh ta không nhận ra bản chất hư ảo của sự hữu hạn, thì anh ta sẽ tin vào sự hữu hạn. Nếu anh ta hiểu bản chất hư ảo của sự hữu hạn thì anh ta sẽ tin vào sự vô hạn. Anh ta không thể sống mà không có niềm tin…

Để có thể sống, một người hoặc phải không nhìn thấy sự vô hạn hoặc phải có một lời giải thích về ý nghĩa cuộc sống kết nối cái hữu hạn với vô hạn.

Tuy nhiên khi càng khám phá đức tin kỹ hơn, ông càng thấy rõ ràng sự tách biệt giữa nó với tôn giáo, đặc biệt là với những lời dạy của nhà thờ Cơ đốc giáo và việc thực hành tín ngưỡng của đám nhà giàu. Một lần nữa, ông trở lại với người nông dân như một hình mẫu của sự cứu rỗi tâm linh, nối kết cái hữu hạn với vô hạn, và một lần nữa nhìn thấy ở họ một đặc tính gần giống với triết lý biết chấp nhận trong Phật giáo:

Ngược lại với những gì tôi quan sát từ những kẻ sống quanh tôi, cả cuộc đời trôi qua đi trong sự lười biếng, khoái lạc và bất mãn, tôi thấy những người lao động nặng nhọc, họ hài lòng với cuộc sống.  Trái ngược với cách những kẻ quanh tôi chống lại số phận và phàn nàn về những mất mát và đau khổ, những người này chấp nhận bệnh tật và buồn đau mà không có bất kỳ sự lúng túng hay phản đối nào, và với một niềm tin tĩnh lặng và vững chắc rằng mọi thứ đều tốt đẹp. Trái ngược với chúng tôi, những kẻ càng khôn ngoan càng chẳng hiểu gì về ý nghĩa cuộc sống, mà chỉ thấy một sự mỉa mai tồi tệ với cái thực tế là chúng ta phải chịu sự đau khổ rồi chết đi, những người dân ấy sống và đau khổ, đối mặt với những đớn đau và cái chết bằng một sự tĩnh lặng, và đa phần là vui vẻ đón nhận..

Trái ngược hoàn toàn với sự hiểu biết của tôi, họ hiểu rõ ý nghĩa của sự sống và cái chết, họ lao động lặng lẽ, chịu đựng sự thiếu thốn và những khổ đau, sống và chết, không thấy ở đó hư không mà chỉ có điều tốt lành.

Tôi biết rằng nếu muốn hiểu cuộc sống và ý nghĩa của nó, tôi phải không được sống cuộc sống của một ký sinh trùng, mà phải sống một cuộc đời thật, và tìm kiếm ý nghĩa được gửi gắm trong cuộc sống bằng một nhân tính thật, phải đắm mình vào cuộc đời, kiểm nghiệm nó. 

 (Theo Brainpickings)

Hỡi thế gian Tình là gì, mà sao tất cả mọi người đều sẵn sàng trả mọi giá để có nó? Tình là gì mà ai ai cũng đau khổ khi dính vào lưới tình? Tình là gì mà sao hậu quả của nó bao giờ cũng trái ngược với những gì được viết, được nói và được ca tụng ? Tình là gì mà sao ai ai cũng đâm đầu vào đó?.

- Tình yêu là thuốc độc, thuốc độc này không thể chữa được, thuốc độc làm cho con người bị ghiền, muốn cai mà cai không được, muốn bỏ cũng không xong, muốn quên càng thêm nhớ, muốn thoát thì càng bị trói buộc, muốn có hạnh phúc thì chỉ được đau khổ, muốn vui chỉ nhận được buồn, muốn có thì lại mất, muốn xa thì bị nó bám lấy, muốn trốn cũng không trốn được.

- Tình yêu không có công thức riêng cho chính nó, nó được tạo ra bởi nhiều duyên hợp thành, chính nó là sự vay trả trả vay của nhân quả.

Biết là có vay phải trả, muốn trả thì phải dứt bỏ, không dính mắc vào nữa. Đằng này ai cũng đâm đầu vào, chưa trả xong lại vay tiếp, vay trả trả vay suốt đời, hết đời này đến đời khác, có phải là vô minh không?

Con người từ nhỏ đã được nhồi nhét vào đầu rằng tình yêu là một trong những thứ phải có trong cuộc đời này. Nó đã được con người ca ngợi hóa nó, được người đời vẽ ra những bức tranh thơ mộng của tình yêu qua ca nhạc, phim ảnh, tranh họa, thơ ca và đủ mọi sáng tác nghệ thuật.

Chính vì những yếu tố đó mà con người bị đầu độc bởi những nét đẹp của tình yêu. Chỉ khi con người đối diện với tình yêu, tiếp xúc với nó, có được nó, trải nghiệm với nó,...mới hiểu được tình yêu không như những gì được biết.

Thực chất tình yêu không khác gì một đồ chơi của trẻ con, khi chưa có thì thích, muốn. Khi có rồi thì mau chán và muốn có những cái khác.

Cái đẹp của tình yêu quá ngắn ngủi, vui thì ít, buồn thì nhiều, vô thường biến đổi, chỉ tồn tại được một khoảng thời gian rồi sau đó chỉ đầy đau khổ và đắng cay.

Đến khi có nó rồi thì đã muộn, gạo đã nấu thành cơm, phải gánh lấy trách nhiệm với người mình yêu, con cái và gia đình. Sự trói chặt của tình yêu làm cho con người mất đi sự tự do, mất đi sự tự chủ, cuộc đời trở nên như nô lệ, sống trong lao tù, không có thời gian sống cho mình, làm ngày làm đêm, lo cho gia đình, cho con, cho cháu đến suốt đời.

Tình yêu không khác gì tình dục, sau những chuyện ân ái, người phụ nữ là người lãnh lấy bao nổi khổ của cuộc đời: khổ vì mang tiếng không còn trong trắng, khổ vì làm dâu trong nhà chồng, khổ vì ói mửa, mệt mỏi mang bầu, xanh xao, ăn uống không vô, khổ vì mang thai 9 tháng 10 ngày đi đứng khó khăn nặng nhọc, khổ vì đẻ sanh thập tử nhất sanh, khổ vì phải nuôi con khôn lớn, khổ vì phải thường xuyên dọn dẹp sự bài tiết của con chịu hôi, chịu thối, hốt dọn, lau chùi, tắm giặt quần áo cho con, khổ vì con bệnh, con không ăn, con khóc suốt đêm ngủ không được.

Đến khi lớn khổ vì phải lo cho con ăn học, tốn trăm thứ chi phí, dành thời gian đưa đón con đi học, canh con có học không, có hiểu bài không, con có ham chơi không, phải học bài với con, khi thấy con đi học về trễ thì lo lắng, thấy con học dỡ cũng lo bị rớt, khổ vì con cãi lời cha mẹ, khổ vì sợ con bỏ học đi chơi, kết bạn xấu, hút xì ke ma túy,...Đến khi con khôn lớn thì lo con có nghề nghiệp đàng hoàng không? có đủ nuôi sống bản thân không,...

Ngoài trừ việc lo cho con, người phụ nữ còn phải đảm đang trăm việc ở nhà: giặt giủ, nấu cơm nước, rửa chén bát, đi chợ, đi làm kiếm tiền, dẫn con cái đi chơi,... Tất cả những cái khổ ở trên đều do tâm tham sắc dục mà ra. Muốn thoát khổ chỉ cần biết dứt bỏ không dính đến tình dục nữa mà thôi.

Tình yêu làm cho con người mù quáng, càng muốn chiếm hữu thì kết cục càng dẫn đến mau rạn nứt và tan vỡ. Tình yêu làm cho con người trở nên ích kỷ, hẹp hòi, nhỏ nhen, chỉ biết lợi ích cá nhân, dễ ghen tuông, dễ sân giận. Khi sự chiếm hữu bị thất bại hoặc bị bỏ rơi thì tình yêu trở thành sự hận thù, chiếm không được thì không muốn người khác có nó, sẵn sàng dùng đủ mọi thủ đoạn để phá hoại, mất đi hết lý trí, trở nên độc ác, không khác gì ác thú, mất đi mọi nhân tính.

Tình yêu làm cho con người vì người mình yêu:

Sẵn sàng hy sinh bản thân để đạt được mục đích, bất chấp mọi thủ đoạn.

Sẵn sàng hy sinh tình thân quen như cha mẹ, anh chị em, bạn bè, bà con để có được hạnh phúc.

Sẵn sàng xông vào biển lửa, dù là lên núi cao, xuống chảo dầu cũng không ngại.

Tình yêu có thể làm cho một người tài giỏi trở thành kẻ trụy lạc, ăn chơi, buông xuôi, chán đời, trở nên vô dụng, người không giống người, ma không giống ma, nghiện rượu, cờ bạc và trở thành kẻ vô tích sự.

Tình yêu có thể làm cho một người ngu dốt trở thành kẻ sáng suốt thông minh, kẻ yếu đuối trở thành kẻ gan dạ, dũng cảm.

Tình yêu có thể làm cho một kẻ đang buồn trở nên vui, vui thành buồn muốn chết.

Tình yêu làm cho người ta sẵn sàng chết mà không sợ.

Tình yêu làm cho người ta sống chết có nhau.

Tình yêu có thể đem niềm hy vọng đến mọi người và cũng có thể hủy diệt tất cả.

Tình yêu có thể làm cho người ta bỏ hết tất cả hoặc trở nên siêng năng cần mẫn chăm chỉ, xây dựng lại cuộc đời.

Tình yêu làm cho hồn phách điên đảo như bị trúng thuốc mê, không còn biết mình làm gì, dù điều đó có gây hại đến mình và mọi người xung quanh. Chỉ cần thỏa mãn, đạt được mục đích lấy lòng người mình yêu.

Tình yêu ngày nay là tình yêu có điều kiện, kẻ đến với tình yêu vì nhan sắc, tài hoa, đức hạnh, vì công danh quyền lực, vì lợi ích, vì của cải, tài sản, vì sự thỏa mãn nhục dục cho bản thân,...

Tình yêu không thể miễn cưỡng, không thể ép buộc, bắt buộc người khác yêu mình, yêu người không yêu mình, yêu người đã yêu người khác, phá hoại hạnh phúc của người khác để đoạt lấy người yêu.

Vì tình yêu mà bao thiếu nữ mê muội, yêu sâu đậm nhưng cũng không nuối tiếc.

V.v...

Cái vô minh của tuổi trẻ mới lớn là luôn mơ ảo tưởng về những điều tuyệt đẹp của tình yêu, do vậy không ai có thể thoát khỏi lưới tình. Chỉ có những bậc hiền trí hoặc những người đã trải nghiệm qua tình yêu mới thấy rõ được bản chất độc hại và nguy hiểm của nó. Chính nó là duyên của tái sanh luân hồi, hết kiếp này đến kiếp khác phải trả vay vay trả cho nhau. Chính nó là nguyên nhân của muôn vàn đau khổ của hàng vạn con cháu sau này, hết đời này đến đời khác không thoát khỏi lưới tình đau khổ.

"Chữ Tình hại người, chữ Ái hại người, nhưng từ cổ tới kim có mấy ai hiểu được mà không rơi vào lưới tình"


Xem thêm>>

Xem thêm>>

Đóng liên hệ [x]
hotline090xxxxxxx
-->