Điểm
phân biệt giữa Gia Cát Lượng và các mưu lược gia nổi tiếng khác thời Tam
Quốc là khả năng dùng “kỳ binh” của mình. Tuân Úc, Quách Gia hay Tư Mã Ý
đều rất giỏi nhưng chỉ giỏi binh pháp thông thường, dùng người để trị
người. Còn Gia Cát Lượng đã đạt đến một cảnh giới cao trong điều binh
khiển tướng.
Trong cả
đời dụng binh của mình, ông có biết bao nhiêu kế hay, mưu lạ: “Thuyền
cỏ mượn tên” lừa Tào Tháo, “Giả thần giả quỷ” gặt lúa ở Lũng Thượng,
“Không thành kế” đuổi 15 vạn quân Tư Mã Ý hay “Trâu gỗ ngựa máy” vận
lương… Tuy nhiên, lần dùng “kỳ
binh” ngoạn mục nhất phải kể đến là khi Gia Cát Lượng phục sẵn trận đồ
Bát Quái, bức cho tướng nước Ngô là Lục Tốn nguy khốn một phen. Điều này
được thuật lại khá chi tiết trong “Tam Quốc diễn nghĩa” hồi thứ 84.
Thạch trận sánh ngang 10 vạn quân
Năm 221,
Lưu Bị vì báo thù cho người huynh đệ kết nghĩa Quan Vũ đã cử 70 vạn
quân sang đánh Đông Ngô. Sau quãng thời gian đầu lấn át, thắng thế, quân
Thục của Lưu Bị rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan sau khi đô đốc Đông
Ngô là Lục Tốn quyết cầm cự, không ra đánh. Sang đến mùa hè năm 222, lợi
dụng thời tiết nóng bức, gió đông nam thổi mạnh, Lục Tốn cho quân phản
công, dùng hỏa công thiêu trụi 40 trại của Lưu Bị trải dài 700 dặm.
Nguyên
từ trước, Gia Cát Lượng đã dặn dò các bộ tướng sau khi cùng Lưu Bị đóng
quân hạ trại ở đâu thì phải vẽ lại địa đồ mang về cho mình xem xét. Mã
Lương đã vượt hàng trăm dặm từ đại trại ở Di Lăng về Tây Xuyên trình địa
đồ cho Gia Cát Lượng. Sau khi xem xong, Khổng Minh thở dài, sớm dự đoán
được sự thất bại của quân đội Thục Hán.
Di chỉ “Bát trận đồ” thời Tam Quốc.
Mã Lương hỏi Khổng Minh kế sách ứng đối một khi quân Ngô thừa thắng đuổi tràn sang Thục. Khổng Minh ung dung đáp: “Chúa thượng nếu có thua, nên chạy về thành Bạch Đế mà lánh. Khi ta vào Xuyên đã phục sẵn mười vạn quân ở bến Ngư Phúc rồi”.
Sau này, Lưu Bị thua chạy, Lục Tốn mang quân đuổi theo truy kích. Khi
đuổi đến ải Quỳ Quan, Tốn ngồi trên ngựa, trước mặt thấy chỗ cạnh bờ
sông bên sườn núi có một đám sát khí bốc ngùn ngụt lên tận trời. Tốn
nghi có mai phục nên cho đại quân dừng lại, lùi 10 dặm, dựng trại đợi
địch đến giao chiến.
Quân do
thám về báo không thấy bất cứ đạo binh mã nào. Tốn vẫn chưa tin, tự mình
cưỡi ngựa lên núi quan sát nhưng cũng không thấy bất cứ dấu hiệu khả
nghi nào khác. Tuy vậy, càng về tối thì sát khí bốc lên ngày càng mạnh.
Lục Tốn nghi hoặc, sai người tâm phúc đi do thám. Người đó về báo rằng
không có quân mã nào mai phục mà chỉ có chừng tám chín mươi đống đá ngổn
ngang dựng ở cạnh bờ sông. Tốn tự mình đi hỏi thổ dân ở đó thì được
biết bến này tên là Ngư Phúc, trước khi vào Xuyên, Gia Cát Lượng đi qua
đây đã lấy đá bày ra thế trận này. Từ đó, ngày nào cũng có sát khí bốc
lên ngùn ngụt.
Lục Tốn
tự mình thân chinh, mang vài chục quân kỵ mã đến tận nơi dò la. Tốn đứng
trên núi nhìn xuống thì thấy thạch trận này bốn mặt tám phương đều có
cửa ra vào. Tốn cười cho đó là mê thuật làm mê hoặc lòng người. Đoạn,
Tốn cầm quân thân chinh đi vào bãi đá xem xét.
Lục Tốn và các tướng đi vào thạch trận.
Khi
chuẩn bị trở về, bỗng đâu một cơn gió lớn nổi lên, cát sỏi bay lên mù
mịt, lại thấy đá dựng lên chơm chởm như gươm cắm, cát nổi lên từng đống
như núi, dưới sông lại thấy nước chảy cuồn cuộn, tiếng reo như trống
rung. Lục Tốn giật mình nói: “Ta mắc phải mẹo Gia Cát Lượng mất rồi”.
Tốn vội vàng tìm đường ra nhưng đã lạc vào thạch trận, loay hoay mãi
vẫn chưa thấy lối thoát. Đang trong cơn túng quẫn thì bỗng đâu thấy một
cụ già đứng ở trước ngựa, nói: “Tướng quân có muốn ra khỏi trận này không?”. Tốn cầu xin ông cụ dẫn ra khỏi thạch trận.
Cụ già
chống gậy, đi từ từ dẫn Lục Tốn thoát khỏi thạch trận. Tốn đa tạ rồi hỏi
danh tính thì mới biết đó chính là Hoàng Thừa Ngạn tiên sinh, bố vợ của
Gia Cát Lượng. Hoàng tiên sinh giải thích: “Khi
rể lão vào Xuyên, có bày thạch trận ở đây, gọi là “Bát trận đồ” chia
làm tám cửa, theo hưu, sinh, thương, đỗ, cảnh, tử, kinh, khai, trong độn
giáp. Mỗi ngày, mỗi giờ, biến hoá không biết đâu mà lần, sánh bằng mười
vạn tinh binh. Khi con rể lão đi có dặn lão rằng: “Về sau, có đại tướng
Đông Ngô lạc vào trận này, thì đừng có đưa ra!” Mới rồi, lão chơi trên
sườn núi. Thấy tướng quân từ cửa Tử đi vào, chắc rằng không hiểu trận
này, thế nào cũng lạc lối. Lão xưa nay ưa làm phúc, không nỡ để tướng
quân chết tại đây, cho nên dắt tướng quân ra cửa sinh”.
Tốn lại hỏi phép bày trận này có học được không, Hoàng Thừa Ngạn trả lời: “Phép trận này biến hóa vô cùng, không sao học được”. Tốn lạy tạ rồi quay ngựa ra về.
Lục Tốn rơi vào thạch trận của Gia Cát Lượng, trải qua một phen “thừa sống thiếu chết”.
Bát trận đồ bí ẩn
Trên
thực tế, “Bát trận đồ” không phải là phát minh độc quyền của Gia Cát
Lượng. Từ thời cổ đại, người ta đã biết bày binh bố trận theo trận đồ và
gọi đó là “Bát trận”. Tuy nhiên, Gia Cát Khổng Minh chính là người đưa
“Bát trận đồ” lên tầm huyền thoại, diễn hóa đầy đủ tinh hoa trong nghệ
thuật dụng binh của mình vào trận pháp này.
Do tư
liệu lịch sử đã tản mát nhiều nên hiện nay người ta không thể nghiên cứu
kỹ về “Bát trận đồ”. Tuy vậy, “Bát trận đồ” của Khổng Minh biến hóa
khôn lường, không thời nào không giành được lời khen tặng. La Quán Trung
trong “Tam Quốc diễn nghĩa” khen “Bát trận đồ” rằng: “Thường hữu khí như vân, từng nội nhi khởi”, nghĩa là: Có khí như mây, sức mạnh phát ra từ bên trong. Trên bia đá ở Thành Đô (nước Thục cũ) lại có câu: “Giang thượng trận đồ do bố liệt. Thục trung tương nghiệp hữu huy quang”, tạm dịch là: Trên sông trận đồ vẫn còn dấu tích. Cơ đồ nước Thục muôn đời sáng ánh vinh quang.
Thạch trận của Gia Cát Lượng
Các nhà
nghiên cứu lịch sử quân sự cho rằng, uy lực của “Bát trận đồ” chính là
bố cục theo phương hướng, biến hóa khôn lường, khi tách, khi hợp. Hình
thế của trận này dựa trên nguyên lý “Bát quái” với 8 cửa: Hưu, Sinh,
Thương, Đỗ, Ảnh, Tử, Cảnh, Khai. Các cửa Sinh, Cảnh, Khai được gọi là
“cửa cát” (cửa tốt), còn lại Hưu, Thương, Đỗ, Tử, Ảnh chính là “cửa
hung” (cửa xấu).
Trong
một trận đồ điển hình, toàn trận có thể huy động 14 ngàn kỵ binh, cứ 50
người thành 1 đội hình, tất cả gồm 280 đội. Bộ binh có 10 ngàn người,
chia đều thành 200 đội. Mỗi một đội bộ binh chiếm 10 thước trong trận
đồ. Tùy theo tình hình cụ thể, “Bát trận đồ” có thể biến hóa khôn lường,
làm quân địch mất phương hướng. Ngoài ra, ở bên trong “Bát trận đồ”
người ta còn có thể bố trí các loại vật liệu đặc biệt như đá, xe lương
thực tạo chướng ngại vật, ngăn cản kỵ binh địch tấn công. Sau khi địch
lọt vào trận, quân sĩ bên trong sẽ dùng cung, tên, mâu, kích để đả
thương, tấn công địch. Trận đồ này là cơn ác mộng với các đội quân kỵ
binh trang bị nhẹ.
“Bát
trận đồ” gắn liền với tên tuổi Gia Cát Lượng suốt hàng nghìn năm qua. Đó
là kết tinh trí huệ của vị “quân sư muôn đời”. Câu chuyện về Lục Tốn
lạc trong “Bát trận đồ” cũng rất đẹp. Đó là một minh chứng hùng hồn cho
tài dùng binh của Gia Cát Lượng. Trước trận thắng Di Lăng, Gia Cát Lượng
đã biết Lục Tốn nhất định kéo quân qua bến Ngư Phúc, nhất định lạc vào
thạch trận và nhất định gặp Hoàng Thừa Ngạn. Thậm chí ông còn dặn bố vợ
đừng dẫn Lục Tốn thoát khỏi trận này.
Ở một
chiều ngược lại, câu chuyện cũng là minh chứng cho chữ “nghĩa” thời Tam
Quốc. Hoàng Thừa Ngạn vì nghĩa mà bỏ qua lời dặn của con rể, một mình đi
vào thạch trận để cứu Lục Tốn. Hoàng Thừa Ngạn có thừa lý do để không
cứu Lục Tốn nhất là khi Tốn vừa đốt sạch trại Thục ở Di Lăng, đánh đuổi
cho Lưu Bị chạy dài về thành Bạch Đế. Nhưng anh hùng trọng anh hùng, họ
đã đối xử với nhau đầy nghĩa hiệp. Lục Tốn là người có tài và Hoàng Thừa
Ngạn cũng vậy (không có tài sao được khi có thể giải được “Bát trận đồ”
của Gia Cát Lượng!). Hoàng Thừa Ngạn mến mộ tài Lục Tốn mà Lục Tốn cũng
thực sự cầu thị khi thừa nhận mình không sao bằng được Gia Cát Lượng,
muốn học hỏi “Bát trận đồ”.
“Bát
trận đồ” của Gia Cát Lượng còn đi vào cả thi ca, nghệ thuật. Nhà thơ Đỗ
Phủ thời Đường nổi tiếng có bài thơ “Bát trận đồ”, trong đó có viết
rằng:
“Công cái tam phân quốc
Danh thành Bát trận đồ
Giang lưu thạch bất chuyển
Di hận thất thôn Ngô”
Dịch
nghĩa: Công lớn trùm khắp thời Tam Quốc. Bát trận đồ nổi danh. Nước sông
vẫn chảy, đá vẫn không lay chuyển. Còn để lại mối hận không thôn tính
được Đông Ngô”.



